VŨNG LIÊM-ĐỊA DANH LỊCH SỬ
1. Lịch sử hình thành:
Vùng đất Vũng Liêm ngày nay, cách đây hơn 270 năm là vùng đất mới, nằm trong tổng thể của thời kỳ khai hoang mở đất lập Dinh Long Hồ của chúa Nguyễn (1732). Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử có nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi: Vĩnh Trị (1732), Vũng Linh (1872), Vũng Liêm (1930).
Trước 1975, Vũng Liêm có thời kỳ thuộc tỉnh Trà Vinh (1958 - 1971), từ năm 1972 - 1975 thuộc tỉnh Vĩnh Long. Sau năm 1976 sáp nhập 02 tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Cửu Long. Đến tháng 5/1992 chia tách tỉnh Cửu Long thành 02 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long đến nay.
2. Điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý:
Vũng Liêm là một huyện nông thôn ở Đồng bằng sông Cửu Long, là một trong 07 huyện - thị của tỉnh Vĩnh Long, năm giữa 02 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, cách thành phố Vĩnh Long 35 km, cách Sài Gòn 175 km. Phía Bắc giáp huyện Mang Thít (tỉnh Vĩnh Long), phía Đông - Bắc giáp tỉnh Bến Tre, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Trà Ôn (tỉnh Vĩnh Long).
Tổng diện tích tự nhiên 294 km2.
Đường ranh giới phía Đông và phía Bắc là sông Cổ Chiên và sông Mang Thít, đây là hai tuyến giao thông thuỷ quốc gia và quốc tế của Đồng Bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, Vũng Liêm còn có Quốc lộ 53, đường tỉnh 901, 902, 906, 907 là các tuyến giao thông nối Vũng Liêm với các trung tâm kinh tế của tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. ( ảnh bên : Phà Vũng Liêm)
Huyện Vũng Liêm có 20 đơn vị hành chính là thị trấn Vũng Liêm, 19 xã: Trung Nghĩa, Trung Ngãi, Trung Thành, Trung Thành Đông, Trung Thành Tây, Trung Hiếu, Trung An, Trung Hiệp, Trung Chánh, Hiếu Thành, Hiếu Nhơn, Hiếu Nghĩa, Hiếu Phụng, Hiếu Thuận, Tân An Luông, Tân Quới Trung, Quới An, Quới Thiện, Thanh Bình, tổng số 168 ấp - khóm.
Địa hình:
Huyện Vũng Liêm có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 0,5 - 1,8m, có xu hướng thấp dần theo hướng TâyNam, cao ở ven sông Cổ Chiên và sông Mang Thít thấp dần vào nội đồng.
Khí hậu - thời tiết:
Khí hậu Vũng Liêm mang tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Trong năm có 02 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.400 mm, mùa nắng kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 27,2 oC.
Thuỷ văn:
Chịu ảnh hưởng chính của chế độ bán nhật triều biểu Đông, thông qua hệ thống sông Cổ Chiên, Mang Thít, trong ngày có 02 con nước lớn, ròng, trong tháng có 02 con nước rông vào những ngày đầu và giữa của tháng âm lịch. Vào mùa lũ nước từ thượng nguồn sông MêKông đổ về sông Tiền và Sông Hậu làm cho mực nước trên các kênh rạch dâng cao. Biên độ truyền triều khá cao, vào mùa lũ từ 70 - 90 cm và vào mùa khô dao động từ 110 - 140 cm
Con đường từ ngã ba ( ngã ba An Nhơn ) đi vào chợ Vĩnh Liêm
Dân số chung toàn huyện đến năm 2006 là 179.949 người với 39.657 hộ, mật độ dân số trung bình 611 người/km2, trong đó lao động trong độ tuổi 130.075 người chiếm 72,28% dân số.
Cũng như các nơi khác trong khu vực Đồng bằngNambộ, do quá trình lịch sử hình thành và phát triển, Vũng Liêm có 03 dân tộc: Kinh, Khơrme, Hoa là cộng đồng dân cư sinh sông từ lâu đời nay.
Dân số của huyện có trên 95% sống ở khu vực nông thôn và khoảng 5% sống ở khu vực thị trấn. Ngoại trừ thị trấn Vũng Liêm và trung tâm các chợ xã, dân cư của huyện thường phân bổ thành các tuyến dọc theo các trục lộ giao thông thuỷ - bộ. Ngoài kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp: trồng lúa, làm vườn, chăn nuôi,... một bộ phận dân cư sinh sống bằng nghề buôn bán, thợ thủ công...
Phần lớn dân số của huyện theo đạo Phật, một số ít theo đạo Thiên Chúa, Cao Đài... và tín ngưỡng dân gian trong nhân dân chủ yếu thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha, mẹ, người thân trong gia đình đã quá cố. Ngoài ra còn có tín ngưỡng riêng tư của từng người từng hộ gia đình. Đặc biệt có phong tục cúng đình, chùa, miễu, lăng... theo thông lệ hàng năm.
KHỞI NGHĨA LÁNG THÉ (VŨNG LIÊM-VĨNH LONG) NĂM 1872
NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN NGHI
I. VỀ ĐỊA DANH “VŨNG LIÊM”:
Khi giải thích về địa danh Vũng Liêm (thuộc tỉnh Vĩnh Long) tác giả Hồ Tĩnh Tâm đã viết: “Vũng Liêm gốc là Vũng Linh, hẳn ngài đại tá thực dân hiểu hơn ai hết về điều đó. Sau cái chết của ngài quan năm dưới tay Đốc binh Cẩn, Chánh quyền Pháp ở địa phương đã xua quân xuống khu vực Cầu Đá để trả thù. Hàng trăm người dân vô tội đã bị khủng bố trắng bằng súng đạn. Phụ nữ bị hãm hiếp. Trẻ sơ sinh bị bỏ vào cối mà giã. Xác người bị vùi xuống vũng nước lớn. Oan hồn của muôn dân đêm đêm nổi lên than khóc, nên người đời mới gọi là Vũng Linh; về sau đọc trại đi thành Vũng Liêm như bây giờ”.(1)
Cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp gắn liền với địa danh Vũng Linh mà Hồ Tĩnh Tâm đề cập đến đó là cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Quận Vũng Liêm (Vĩnh Long) mà các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương gọi là “Cuộc khởi nghĩa Cầu Vông” và Lê Cẩn, Nguyễn Giao được xem là linh hồn của cuộc khởi nghĩa này.
Trong khi truy tìm những tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu những vấn đề còn tồn nghi trong cuộc khởi nghĩa Láng Thé năm 1872, chúng tôi thấy trong rất nhiều tài liệu hiện hành, địa danh “Vũng Liêm” có quan hệ mật thiết với cuộc khởi nghĩa này.
Trên trang mạng của tỉnh Vĩnh Long(2), trong phần lịch sử hình thành vùng đất này đã viết: “Vùng đất Vũng Liêm ngày nay, cách đây hơn 270 năm là vùng đất mới, nằm trong tổng thể của thời kỳ khai hoang mở đất lập Dinh Long Hồ của chúa Nguyễn (1732). Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử có nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi: Vĩnh Trị (1732), Vũng Linh (1872), Vũng Liêm (1930)”…
Bên cạnh đó một tài liệu khác cũng lặp lại tương tự(3): “Vùng đất Vũng Liêm ngày nay, cách đây hơn 270 năm là vùng đất mới, nằm trong tổng thể của thời kỳ khai hoang mở đất lập Dinh Long Hồ của chúa Nguyễn (1732). Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử có nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi: Vĩnh Trị (1732), Vũng Linh (1872), Vũng Liêm (1930). Trước giải phóng, Vũng Liêm có thời kỳ thuộc tỉnh Trà Vinh (1958 - 1971), từ năm 1972 - 1975 thuộc tỉnh Vĩnh Long. Sau giải phóng năm 1976 sáp nhập 02 tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Cửu Long. Đến tháng 5/1992 chia tách tỉnh Cửu Long thành 02 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long đến nay”.
Về khía cạnh văn chương, trong bài “Tìm hiểu non sông -đất nước
- Dân tộc Việt Nam ..qua thi ca”(4), chúng ta hãy nghe:
“Quận Vũng Liêm hình dung lịch sử
Hai anh hùng Lê Cẩn Nguyễn Giao
Giết tham biện quan trào Pháp thuộc
Lấp vũng sâu xưng tụng Vũng Linh
Người đọc trại Vũng Liêm thành ngữ
Tiếng Vũng Linh hùng khí vẫn hiên ngang”…
Trong lĩnh vực báo chí, bài “Theo lời di nguyện” của Báo Thương mại điện tử(5) thì cho rằng “Còn hồ "Vũng Linh" thì được coi là xuất xứ của tên gọi Vũng Liêm”.
Trong công trình nghiên cứu “Truyền thuyết dân gian về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ (1858 – 1918)”(6), tác giả Võ Phúc Châu đã khẳng định: “Sang 1872, ‘nhóm nghĩa quân vùng Cầu Vông (Vĩnh Long) nổi lên kháng Pháp. Lãnh tụ kháng chiến là đốc binh Lê Cẩn và Nguyễn Giao’ … ‘Thời gian trôi đi, đời sau tìm cách nói trại đi tên đất, như để xóa nhòa dần những ký ức bi thương. Rạch Hai Nàng, theo đó, đã thành rạch Nàng Hai , Vũng Linh oan khốc đã thành Vũng Liêm lặng lẽ, hiền hòa,…”.
Đọc Quốc sử quán Triều Nguyễn, Quốc triều chánh biên toát yếu(7) đoạn từ năm Nhâm Thân thứ XXV(1872) đến năm Ất Hợi thứ XXVIII(1875) chúng tôi không thấy có một chi tiết nào liên quan đến Vĩnh Long và cho đến hôm nay chúng tôi cũng không thấy có một tài liệu nào của Triều đình Nhà Nguyễn cũng như của chính quyền thực dân Pháp gọi đơn vị hành chính tại khu vực Vũng Liêm ngày nay là Vũng Linh.
Nhìn chung trong tất cả các tài liệu tiếp cận được, chúng tôi thấy rằng các tác giả của những tài liệu kể trên có khả năng chỉ tham khảo từ một nguồn tài liệu duy nhất đó là tác phẩm “Vĩnh Long xưa và nay” của Huỳnh Minh(8).
Nhắc đến nhà biên khảo Huỳnh Minh(9), đầu tiên chúng tôi phải khâm phục cho sự đóng góp của ông trong việc giới thiệu về đất nước và con người của mỗi địa phương mà ông đã đi qua nhất là những giá trị nhân văn mà ông gửi gắm qua từng trang viết (trong điều kiện nhân dân miền Nam đang sống trong vùng tạm chiếm), nhưng chúng tôi cũng phát hiện trong các công trình biên khảo của ông có nhiều sai sót cơ bản(10) cần phải đính chính.
Trở lại địa danh “Vũng Liêm” mà chúng tôi muốn làm sáng tỏ. Như chúng ta đã biết trong vấn đề địa danh “quan trọng nhất là giải thích nguồn gốc, ý nghĩa ban đầu và những biến đổi của địa danh, vì đây là nhiệm vụ chủ yếu của ngành địa danh học. Việc xác minh nguồn gốc và ý nghĩa nguyên thủy của mỗi địa danh không kém phức tạp. Địa danh là những tấm bia lịch sử-văn hóa bằng ngôn ngữ mà đa số đối tượng ban đầu của nó (con người, cây cỏ, cầm thú, địa hình, biến cố…) không còn nữa mà sách vỡ trước đây ít khi ghi lại. Mặt khác, địa danh luôn bị tác động bởi quy luật biến đổi ngữ âm nên nó không còn mang dạng ngữ âm ban đầu. Hơn nữa, nó lại bị hệ thống âm vị của phương ngữ chi phối nên bị sai lệch. Đó là chưa kể đến các nguyên nhân ghi chép không chính xác, in ấn sai lạc…”(11). Không ít người đã phạm phải sai lầm khi căn cứ vào hình thức ngữ âm và chính tả hiện tại để suy đoán ý nghĩa ban đầu của địa danh. Cách giải thích Vũng Liêm là do từ Vũng Linh (vũng nước linh thiêng)đọc trại mà ra là những thí dụ sinh động của sự vi phạm nguyên tắc trên.
Chính vì vậy mà chúng tôi rất cẩn trọng trong việc truy gốc địa danh này.
Đọc lại bộ sử của Triều Nguyễn, “Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ(12), chúng tôi phát hiện bộ sách có ghi chép rằng:
“ VĨNH LONG
Minh Mạng năm thứ 9, chuẩn y lời tâu cho đầm Hải Đông ở trấn ấy, tiền thuế cả năm 790 quan.
Năm thứ 10, chuẩn y lời tâu cho các phủ Lạc Hóa, Vĩnh Bình thuộc trấn ấy, về tiền thuế cả năm cấp dôi ra cọng 21 sở, tiền là 3.063 quan, tự nay về sau cho miễn trừ tất cả.
Năm thứ 11, chuẩn y lời tâu cho chi nhánh song Hải Đông ở trấn ấy từ cửa biển Ba Lầy đến những chỗ có nghề đánh cá như: Mỹ Mịch, Ba Thắc, Nội Giang, Ngoại Hải, Trúc Quỳ, Khẩn Để, Phao Võng, đều quy vào 1 sở tiền thuế là 790 quan; về Trà Vinh, Mân Thiết, Tà Ngoa, Tà Công, Tà Mông đều quy vào 1 sở tiền thuế 561 quan; lạch Gỗ Dầm Cần Thơ thong sang đến Giáp Nặc, từ Phiếm đến Mễ gồm 2 bên các sở tiền thuế 35 quan; lạch Mục Phát Trà Vinh tiền thuế 390 quan, sở Lang Thiết gồm các bào xác xảo 360 quan; về lạch cá từ Cổ Trinh thong sang Cái Hồng, gò An, Vịnh Liêm, Lãng The [chúng tôi nhấn mạnh], và Cổ Chọn, cái Bãi, cái Tiêu, Thị Luận, cái Thảm, cái Lãng và cái Chác, quy về 1 sở tiền là 209 quan; lạch cái Cá ở Mỹ Long Bàng Côn 20 quan; lạch Ba Tri thuộc Mỹ Long 35 quan…”
Hai địa danh “Vịnh Liêm” và “Lãng The” đã xuất hiện trong sử sách Triều Nguyễn muộn nhất là vào năm 1829 (Năm Minh Mạng thứ 10).
Một tư liệu không kém phần quan trong về địa danh “Vũng Liêm” là trong An Nam Đại quốc họa đồ [ABULA GEOGRAPHICA EMPERII ANAMITICI (1838)](13), ở khu vực được ghi chú là Vịnh Thanh Trấn, địa danh Vũng Lim đã xuất hiện rất rõ.
Nhưng quan trọng hơn hết là trong tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức(14), lần đầu tiên chúng tôi thấy địa danh “Vũng Lim” xuất hiệt một cách trọn vẹn:
“[60a] Sông An Phú (tên thôn, tục danh là Vũng Lim), rộng 18 tầm, sâu 8 tầm, ở bờ tây song lớn Long Hồ, về tây bắc 2 dặm thì có chợ nhỏ; 36 dặm đến ngã ba Khu Ân, hợp dòng với song Kiên Thắng, dân Kinh dân Di ở lẫn lộn, chuyên nghề làm ruộng, phát cỏ gieo mạ, đắp đập bắt cá, dung sức ít mà được lợi nhiều, theo bóng mặt trời mà làm mà nghỉ, không hay lêu lổng”(15).
II. NHÂN VẬT LÃNH ĐẠO CUỘC KHỞI NGHĨA NĂM 1872 TẠI VŨNG LIÊM
Về hai nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao, trên trang mạng của tỉnh Vĩnh Long (16) chúng tôi thấy đã được ghi nhận bởi các chi tiết sau đây:
a. “Ông Lê Cẩn - chưa rõ quê quán - nguyên là một võ quan của triều đình Huế, làm đến chức Đề đốc. Khi nói về ông, sử sách thường ghi là Đốc binh Lê Cẩn”, “Cho đến lúc này chưa ai tìm được một cứ liệu lịch sử nào nói về năm sinh, quê quán, cuộc đời của người anh hùng nghĩa quân Nguyễn Giao. Thế nhưng, đã hơn trăm năm nay tên họ của ông gắn liền với cuộc khởi nghĩa của Đốc binh Lê Cẩn, gắn liền với trận chiến Cầu Vông ở Vũng Liêm vào năm 1872”.
b. “Hiệp ước Patenôtre ký năm 1862 giữa triều đình Huế và thực dân Pháp thực chất là một hàng ước nhục nhã, đã gây công phẫn cao độ trong giới sĩ phu yêu nước và nhân dân 3 tỉnh miền Đông (bị dâng cho Pháp) và Nam bộ nói chung”.
c. “Theo tài liệu cũ thì mặc dù Tôn Thọ Tường đã lưu ý can ngăn nhưng Bồi Xê (tên tục của Salicetty) vẫn chủ quan, nghênh ngang đến Cầu Vông để nhận sự ‘đầu hàng’ của Lê Cẩn”…
d. “Để dập tắt phong trào này, thực dân Pháp phải huy động một lực lượng đông đảo từ nhiều nơi kéo về, kể cả lực lượng của Đốc phủ Cái Bè Trần Bá Lộc, Đội Tấn (theo Monographie de la provine Vĩnh Long et Trà Vinh). Chúng rất am tường đường đi nước bước và đặc biệt rất tàn ác dã man. Chúng mở cuộc tấn công vào nghĩa quân ở đồng Láng Thé”.
Tất cả những chi tiết trên đều phù hợp với nội dung về cuộc khởi nghĩa này trong tác phẩm “Vĩnh Long xưa và nay” của Huỳnh Minh.
Đến đây, chúng tôi xin mạn phép trao đổi cùng với các tác giả biên soạn phần lịch sử trên trang mạng của tỉnh Vĩnh Long:- Ở chi tiết (a), đoạn viết “Khi nói về ông, sử sách thường ghi là Đốc binh Lê Cẩn”. Vậy sử sách thường ghi là quyển sử nào? Sách gì? Hiện nay đang được lưu trử tại đâu? - Còn đoạn nói về Hiệp ước Patenôtre ở chi tiết (b) thì hoàn toàn sai, bởi vì Hòa ước Patenôtre, còn gọi là Hòa ước Giáp Thân, là hòa ước cuối cùng nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp vào ngày 6 tháng 6 năm 1884. Gồm có 19 điều khoản. Đại diện các phía: nhà Nguyễn: Nguyễn Văn Tường, Phạm Thuận Duật; phía Pháp: Patenôtre (đại sứ của Pháp). Đây là một trong các hòa ước công nhận sự đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn trước sự xâm lược của thực dân Pháp đối với Việt Nam [Thực ra, nhà Nguyễn đã phải công nhận sự bảo hộ của Pháp từ trước đó với Hiệp ước Harmand (Hòa ước Quý Mùi) năm 1883. Tuy nhiên, những điều khoản trong hiệp ước Harmand quá nặng nề nên đã gây ra sự phản ứng mạnh mẽ từ các vua quan trong triều và nhân dân cả nước. Vì thế, Hiệp ước Patenôtre ra đời có tác dụng xoa dịu sự phản đối của dư luận và vua quan nhà Nguyễn. Theo hòa ước này, Thực dân Pháp sẽ trả lại phần đất từ Ninh Bình (thuộc Bắc Kỳ) trở vào đến Hà Tĩnh ở phía Bắc, và tỉnh Bình Thuận ở phía Nam cho nhà Nguyễn. Ngoài ra về căn bản Hòa ước Patenôtre không có gì khác biệt so với Hiệp ước Harmand đã ký trước đó].
- Ở chi tiết (c), đoạn viết “Theo tài liệu cũ thì mặc dù Tôn Thọ Tường đã lưu ý can ngăn nhưng Bồi Xê…”. Thế thì theo tài liệu cũ là tài liệu nào? - Trong chi tiết (d), chúng tôi không thấy tác phẩm nào có tên “Monographie de la provine[viết sai chính tả] Vĩnh Long et Trà Vinh” mà chỉ có tác phẩm “Monographie de la province de Vinh Long”(17).
Chính vì những nghi vấn trên, chúng tôi tìm đọc các tài liệu khác như cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1873), Sơn Nam đã viết: “Chúng ước lượng lực lượng nghĩa quân chừng 400 hoặc 500 và than phiền là không thắng trận hoàn toàn. Nghĩa quân chạy thoát quá nhiều vì cánh quân tiếp viện của tỉnh Châu Đốc không chịu tới kịp thời. Một chi tiết đáng chú ý là phó quản Hiếm và bọn mã tà của y bắt thêm được 13 nghĩa quân: tất cả những người này đều là dân từ Bến Tre, từ Trà Vinh đến hưởng ứng chánh nghĩa của ông Trần Văn Thành. Bọn pháp còn tịch thâu một số giấy tờ, xác phận rằng ông có liên lạc với nhiều tỉnh ở Nam Kỳ để khởi nghĩa, ông đã từng ở Rạch Giá (vụ Nguyễn Trung Trực) và ở Vũng Liêm (có lẽ vụ giết chết tên chủ tỉnh Salicetti)[Chúng tôi nhấn mạnh].(18)
Đọc lại các sách lịch sử đã xuất bản cách nay hơn 50 năm như Nam Bộ chiến sử(19), trong phần phụ lục, mục Việt Nam cách mạng sử đồ, Thời kỳ thứ nhất (1859-1884),trang III, tác giả đã trình bày:
Phong trào cách mạng
Đảng phái thủ lãnh
Khẩu hiệu chủ trương
Chú thích
…
1872-Khởi nghĩa Vĩnh Long, Long Xuyên, Cần Thơ, Bến Tre
Dân chúng
Tham biện Saliceti bị giết tại Vũng Liêm
Trong Việt Nam tranh đấu sử, thời gian 1871-1872, tác giả đã viết: “Khắp miền Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, quân Cần vương nổi dậy tứ tung.(20)
Cũng như lịch sử địa phương Vĩnh Long đã ghi nhận: “(Ngay thời Pháp thống trị chúng đã cho xây một trụ đá hàm ý ghi nhớ “công lao” của Salicetty và bè lũ !). Ngày nay, cũng tại đây nhân dân Vũng Liêm đã xây một bia tưởng niệm để luôn luôn tưởng nhớ tấm gương anh dũng bất khuất của các nghĩa sĩ Cầu Vông. Ở ấp Đầu Giồng xã Bình Phú, huyện Càng Long vào ngày mồng 3 tết âm lịch hàng năm có ngày giỗ hội. Đó cũng là biểu hiện sự tưởng nhớ các nghĩa sĩ vì nước bỏ mình. Tương truyền khoảng 200 người bị giặc đưa về đây hành hạ, giết chết và vùi xác nơi đây”.(21)
Đến đây, kết luận thứ nhất mà chúng tôi đưa ra là cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1872 tại Vũng Liêm, Vĩnh Long là một sự thật lịch sử, nhưng thật sự có phải Lê Cẩn, Nguyễn Giao là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tại Vũng Liêm năm 1872 hay không?
Chúng tôi thấy rằng trong số 33 “Con người và Danh nhân tỉnh Vĩnh Long” tên nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao được nhiều lần nhắc đến như là lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa, nhưng trên trang mạng của tỉnh Tiền Giang, trong mục Địa chí Tiền Giang / Chương ba: Quân dân Định Tường chống thực dân Pháp xâm lược (1859 - 1894), ở phần trình bày về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân lần thứ ba (1872-1878), chúng tôi thấy: “Một năm sau ngày “Tứ Kiệt” hy sinh, năm 1872 ở Tiền Giang lại bùng lên một cuộc khởi nghĩa mới do Nguyễn Hữu Huân và Âu Dương Lân lãnh đạo. Từ căn cứ Bình Cách (Chợ Gạo), cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan ra ở khắp vùng Mỹ Tho, Tân An và Chợ Lớn. Bấy giờ Nguyễn Hữu Huân bị đày ở Cayenne vừa được tha về giam lỏng với tư cách là người dạy học ở nhà Tô Đốc Phủ (Chợ Lớn). Thỉnh thoảng ông được về thăm gia đình rồi bí mật quan hệ với Âu Dương Lân, tổ chức cuộc khởi nghĩa.
Nhiều thủ lĩnh nghĩa quân ở các địa phương khác đã tích cực tham gia như Nguyễn Văn Chất ở Vĩnh Long [chúng tôi nhấn mạnh], Lê Công Thành, Lâm Lễ ở Cần Thơ, Long Xuyên. Đặc biệt, lần khởi nghĩa này Nguyễn Hữu Huân đã thu hút sự tham gia của hàng trăm hương chức, hội tề của mấy chục làng trong huyện Kiến Hưng và huyện Kiến Hòa của phủ Kiến An, nơi trước đây ông làm Giáo thọ. Nghĩa quân hoạt động mạnh mẽ trong suốt hai năm, đến giữa năm 1874 do thiếu thốn vũ khí, lương thực, nên lực lượng suy yếu dần”.(22)
Ở một tài liệu khác,tác giả Tâm Nghĩa khi viết về Âu Dương Lân:
“Âu Dương Lân quê ở Tiền Giang, là con của cụ cử nhân Âu Dương Xuân(từng đỗ cử nhân hạng 9 khoa năm 1842). Theo truyền thống của gia đình Ông miệt mài cố gắng học tập, khoa thi năm 1858 ông đỗ cử nhân hạng 5, sau đó ông được cử ra làm quan và làm đến chức tri huyện(Tri huyện Kiến Xương), .
Khi giặc Pháp xâm chiếm Nam bộ, với tinh thần yêu nước của kẻ sĩ, với lòng căm thù giặc sâu sắc, ông đã sớm đứng trong hàng ngũ của những người kháng chiến. Với chức trách của một quan tri huyện giàu lòng yêu nước thương dân, ông đã tổ chức và phối hợp với những lãnh tụ nổi tiếng kháng Pháp lúc bấy giờ như Nguyễn Văn Chất [chúng tôi nhấn mạnh], Lê Công Thành, Phạm Văn Đổng nổi dậy khởi nghĩa đánh Pháp ở Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên
Năm 1872, dân chúng các vùng lân cận tham gia khởi nghĩa ngày càng đông, các cuộc kháng chiến, phá đồn bốt giặc khắp vùng Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long... Nhưng phong trào khởi nghĩa của Âu Dương Lân thực sự lớn mạnh và gây tiếng vang lớn sau khi kết hợp được với Nguyễn Hưu Huân vừa được Pháp thả về”…(23)
Thạc sĩ Huỳnh Đức Thiện trong giáo trình viết về Phong trào kháng Pháp của nhân dân Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, có đoạn trình bày: “Năm 1872, Nguyễn Hữu Huân bỏ trốn trở về vùng Mỹ Tho, Tân An, cùng Âu Dương Lân và nhiều người khác, lại khởi binh. Từ đây, phong trào chống Pháp do Nguyễn Hữu Huân đứng đầu lan khắp vùng Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn. Nhiều thủ lĩnh địa phương như Nguyễn Văn Chất (ở Vĩnh Long)[chúng tôi nhấn mạnh], Lê Công Thành, Phạm Văn Đồng, Lâm Lễ… (ở Cần Thơ, Long Xuyên) đều quy tụ về với nghĩa quân. Một hệ thống kháng chiến được xây dựng tận nhiều thôn xã, nhất là trên địa bàn Mỹ Tho, Tân An.
Nhưng từ giữa năm1874, lực lượng nghĩa quân suy yếu do thiếu khí giới, thuốc đạn. Cuối năm đó, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn, được các tên bán nước Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương hỗ trợ, từ nhiều hướng tấn công căn cứ Bình Cách. Nghĩa quân tan vỡ, Nguyễn Hữu Huân thoát được về Chợ Gạo.
Những tháng đầu năm 1875, Nguyễn Hữu Huân có trở lại vùng Tân An, quyên góp tiền bạc, hy vọng nhóm lại lực lượng. Nhưng lúc này thực dân Pháp và tay sai đã bao vây lùng bắt hầu hết các tướng lĩnh cuộc khởi nghĩa. Cuối cùng Nguyễn Hữu Huân cũng không thoát khỏi tay giặc. Sau khi đưa ông lên Sài Gòn, địch giải ông trở về Mỹ Tho, xử tử ở chợ Bến Tranh ngày 19.5.1875”.(24)
Trên Báo Bình Dương, khi viết về “Nguyễn Hữu Huân: Tấm gương sáng về tinh thần yêu nước” đã có một chi tiết đáng chú ý: “Năm 1872, được tin Nguyễn Văn Chắt [Chất?-chúng tôi nhấn mạnh], Lê Công Thành và Âu Dương Lân nổi dậy khởi nghĩa đánh Pháp ở Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, Nguyễn Hữu Huân lập tức bỏ về Tân An, Mỹ Tho để cùng tham gia khởi nghĩa...”.(25)
Vậy ông Nguyễn Văn Chất là ai? Là thủ lĩnh nghĩa quân của cuộc khởi nghĩa nào ở Vĩnh Long mà nhiều tài liệu lại nhắc đến?
Đọc lại Monographie de la provinece de Vinh Long(26), về sự kiện năm 1872 chúng tôi thấy được khá nhiều chi tiết như sau: “Một vài năm sau, vào năm 1872, được sự xúi giục của một số quan lại ở Huế, vốn chỉ thuần phục chính quyền Pháp ngoài mặt, nhiều băng nhóm vũ trang đã rãi khắp Trà Vinh, đặc biệt là những vùng xung quanh chợ lớn Vũng Liêm, chúng đụng đâu cướp đó trên đường. Thanh tra Salicetti-đại úy thuộc lực lượng thủy quân lục chiến-đã khinh suất kinh lý thanh tra vùng này với chỉ một vài lính cận vệ nên đã bị một nhóm phiến quân tập kích và hạ sát. Đốc phủ Cai-bè [Cái Bè] là ông Tran-Ba-Loc [Trần Bá Lộc], nổi danh bởi sự sáng trí, và sự tận trung dũng cảm của ông đối với sự nghiệp của chúng ta, có nhiệm vụ trừng phạt những kẻ sát nhân. Bằng một cuộc hành quân chớp nhoáng ông đã tập kích chúng ở cánh đồng Long-Thê [Láng Thé] và buộc chúng tháo chạy sau một trận giao tranh đẫm máu ròng rã một ngày trời. Cuộc bố ráp thật khủng khiếp. Thi thể của viên sĩ quan bất hạnh được tìm thấy trong bụi cây bị phanh thây đáng sợ: đầu lìa khỏi cổ; chiếc mũ kêpi với lon đại úy bằng kim tuyến bị bêu trên một chiếc cọc cắm giữa đồng. Các phần thi thể đáng thương còn lại được Đốc Lộc thành kính cho gom nhặt lại và đưa về Vĩnh Long mai táng”.
Đây là một sử liệu đáng tin cậy vì nó được viết bởi chính người Pháp vào đầu thế kỷ XX (muộn nhất là năm 1911), nhưng chúng tôi cũng không thấy xuất hiện trong tác phẩm này tên nhân vật nào là Lê Cẩn, Nguyễn Giao.
May mắn thay, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi phát hiện trong “Phụ trương của Báo Cứu Quốc”, số Xuân năm 1947 và nhất là trong tác phẩm nổi tiếng của Giáo sư Trần Văn Giàu,“Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám” (26) đã viết: “Năm 1875(27), nhân dân tỉnh Vĩnh long, quận Vũng liêm, vùng Láng thé, nổi dậy dưới quyền chỉ huy của cụ Nguyễn Văn Chất 60 tuổi, giết chết một số quan quân Pháp”.
Nếu như trong Nam bộ chiến sử không nêu được tính chất của cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vĩnh Long và trong Việt Nam tranh đấu sử tác giả đã nhằm lẫn khi cho rằng các cuộc khởi nghĩa ở miền Tây Nam bộ trong thời gian này mang tính chất Cần Vương, thì tác giả Trần Văn Giàu đã trình bày tính chất của cuộc khởi nghĩa này một cách có cơ sở khoa học: “ Cuộc khởi nghĩa này có quan hệ với một cuộc vận động tôn giáo gọi là “Đạo Lành”. Ngay khi mới xuất hiện, Đạo Lành đã được Pháp nhận định rằng nó không phải là một tôn giáo đơn thuần mà là một tổ chức dân tộc dưới hình thức tôn giáo cho nên chúng gọi đó là thứ “chủ nghĩa dân tộc tôn giáo”. Đạo Lành phát triển rất nhanh. Pháp theo dõi rất kỹ và nghị định 22-8-1874 của chính quyền thực dân buộc Đạo Lành phải giải tán. Đạo Lành bị khủng bố bèn chuyển thành “Đạo Phật đường”, “Đạo Minh sư” và tiếp tục truyền bá cái mà Pháp gọi là “chủ nghĩa dân tộc tôn giáo”.(28)
Sự lý giải của Trần Văn Giàu phù hợp với nhận định của Sơn Nam khi trình bày về cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (29) : “Tháng sau, ngày 22-4[?]-1873, một nghị định được ban hành do đô đốc Dupré nghiêm cấm không cho dân chúng được theo đạo Lành vì đạo này xúi giục dân đi lạc khỏi đường ngay nẻo chánh. Nghị định nói trên cũng cho biết còn nhiều người đi truyền giảng đạo này ở toàn Nam Kỳ, hàng giáo phẩm của đạo cũng như tín đồ sẽ bị phạt theo luật đàng cựu, xem như là gian đạo sĩ, phiến loạn”. Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nhắc lại ý kiến của Giáo sư Phan Huy Lê trong bài “Sự thật về hình tượng Lê Văn Tám”(31):
“Đối với sử học, tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học. Dĩ nhiên, với trách nhiệm công dân, có những sự thật trong một bối cảnh cụ thể nào đó liên quan đến bí mật quốc gia hay ảnh hưởng đến lợi ích sống còn của dân tộc, nhà sử học chưa được công bố.
Về nguyên lý, mọi kết quả nghiên cứu sử học càng khách quan và trung thực, càng có tác dụng tích cực xây dựng nhận thức lịch sử đúng đắn và không có gì mâu thuẫn với các biểu tượng lịch sử, các tượng đài yêu nước có giá trị được nhân dân tôn vinh…
Đó không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật, nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hi sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng. Trả lại nguồn gốc thật của biểu tượng này là để tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học, khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám…
Tôi nghĩ rằng tất cả các đường phố, trường học, công viên... mang tên Lê Văn Tám vẫn để nguyên, vẫn được tôn trọng như một biểu tượng với nội dung giải thích đúng sự thật và ngăn chặn mọi ý đồ dựng lên lý lịch Lê Văn Tám như một nhân vật có thật rồi có người lại nhận là hậu duệ của nhân vật này”.
KẾT LUẬN:
1.Địa danh “Vũng Lim” đã xuất hiện trong thư tịch có liên quan đến lịch sử Việt Nam thế kỷ thứ XIX muộn nhất là vào năm 1838, có nghĩa là nó đã có trước địa danh “Vũng Linh” 34 năm. Còn nếu căn cứ vào tác phẩm Gia Định thành thông chí, thì địa danh “Vũng Lim” đã xuất hiện trước địa danh “Vũng Linh” 52 năm. Chính vì vậy địa danh “Vũng Liêm” không phải do địa danh “Vũng Linh” đọc trại mà ra.
2.Cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1872 tại Vũng Liêm, Vĩnh Long là một sự thật lịch sử và cuộc khởi nghĩa này là một phong trào yêu nước mang hình thức tôn giáo.
3.Về hai nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao gắn liền với cuộc khởi nghĩa năm 1872 được trình bày bởi các tài liệu lịch sử địa phương ở Vĩnh Long từ sau năm 1975 là xuất phát từ tài liệu duy nhất “Vĩnh Long xưa và nay” của Huỳnh Minh từ năm 1967. Cho đến nay chúng tôi thấy rằng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1967 không có một tài liệu lịch sử nào khi nhắc đến cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vĩnh Long mà có tên hai nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao.
4.Căn cứ vào các nguồn sử liệu và nhất là tài liệu nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Giàu, chúng tôi thấy rằng tên nhân vật Nguyễn Văn Chất trong cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vĩnh Long xuất hiện trước tên hai nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao ít nhất là 20 năm và được nhiều tài liệu lịch sử nhắc đến. Điều này bước đầu có thể đặt ra giả thiết: Cụ Nguyễn Văn Chất, 60 tuổi chính là thủ lĩnh chỉ huy cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vũng Liêm, Vĩnh Long. Thủ lĩnh Nguyễn Văn Chất không hy sinh trong trận đánh Cầu Vông, mà vẫn tiếp tục kháng Pháp dưới ngọn cờ của Thủ khoa Huân sau năm 1872.
KIẾN NGHỊ: Để góp phần làm sáng tỏ tính chất và người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vũng Liêm, Vĩnh Long, chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng của tỉnh Vĩnh Long sớm tổ chức các cuộc hội thảo khoa học về chủ đề này để giải mã những tồn nghi mà chúng tôi đặt ra.
Nguyễn Thanh Tâm @ 20:13 24/10/2014
Số lượt xem: 2207
- NGUYỄN THỊ ĐỊNH (25/02/14)
- NGUYỄN THỊ ĐỊNH (25/02/14)
- ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (23/02/14)
- Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới (1986-1990) (07/01/14)